Nguyễn Tuấn Khoa

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tên thật là Nguyễn Văn Thu, sinh ngày 29 Tháng Giêng, 1934, tức ngày 15 Tháng Chạp Âm Lịch, năm Quý Dậu, tại Gia Định. Ông là sĩ quan Quân Nhu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cấp bậc Đại Úy (khi biệt phái năm 1969). Ông cũng là giáo sư Hội Họa trường trung học Võ Trường Toản, đồng thời là giáo sư Điêu Khắc trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định.
Ông Thu nói rằng: “Điêu khắc là nghề do thân sinh chọn, nghiệp giáo do tôi chọn, còn binh nghiệp do tổ quốc đã chọn cho tôi. Tôi đã sống trọn cuộc đời cùng Nghề và Nghiệp với lý tưởng TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM.”
Nghề Điêu Khắc và nghiệp Giáo Chức
Ông Thu có năng khiếu hội họa đặc biệt khi còn nhỏ, nên được cha hướng theo nghệ thuật. Năm 1949, học hết lớp Đệ Tứ (lớp 9), ông thi đậu trường Mỹ Nghệ Thực Hành Gia Định (Ecole des Arts appliqués de Gia Đinh). Đây là ngôi trường danh giá, thành lập từ 1913, do các họa sĩ Pháp giảng dạy nên ông có cơ hội tiếp xúc ngay với mỹ thuật Phương Tây. Suốt bốn năm học, các thầy Pháp ngạc nhiên trước tài năng của học trò nên khuyên ông theo con đường mỹ thuật cho đến trọn đời.
Năm 1953 ông đậu vào trường Mỹ Thuật Gia Định, học cùng lúc hai ngành Mỹ Thuật và Giáo Khoa Hội Họa trong 6 năm, mất gấp đôi thời gian. Họa sĩ Lê Văn Đệ, Giám đốc trường, hướng ông theo lĩnh vực điêu khắc. Ông nói, trong sự nghiệp sáng tác của mình có dấu ấn của thầy Đệ.
Tốt nghiệp năm 1958, Ông được Bộ Quốc Gia Giáo Dục bổ nhiệm dạy tại hai trường: Trung học Võ Trường Toản và Mỹ Thuật Gia Định. Nghiệp giáo chức được bốn năm thì bị gián đoạn trong 7 năm do binh nghiệp. Năm 1969, ông được Biệt Phái Ngoại Ngạch, trở lại dạy tại hai trường trên cho đến cuối Tháng Tư, 1975. Ông có nhiều tác phẩm được lưu giữ tại trường Mỹ Thuật Gia Định nhưng tất cả đều biến mất sau ngày Sài Gòn sụp đổ.
Nghề Điêu Khắc và Binh Nghiệp
Ngày 17 Tháng Hai, 1962, ông nhập ngũ theo lệnh Tổng Động Viên. Ông học khóa 13 trường Võ Khoa Thủ Đức, thuộc lực lượng Sĩ Quan Trừ Bị. Tốt nghiệp Tháng Mười Hai,1962, ông được bổ nhiệm tại “Trung Tâm Khảo Sát Kỹ Thuật Quân Nhu,” với chức vụ Chuyên viên Đài Án Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và Bốn Vùng Chiến Thuật.
Suốt bảy năm trong quân ngũ, ông dành phần lớn thời gian để sáng tác đề tài người lính VNCH, tất cả là những tuyệt tác của nền điêu khắc quốc gia đang vào thời cực thịnh. Đó là tượng Ngày Về (giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Ngô Đình Điệm), tượng Quyết Thắng, tượng Chiến Sĩ Vô Danh (bùng binh Tổng Đốc Phương), tượng Trung Liệt (Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp)… Trong đó bức tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là một kiệt tác nghệ thuật mà người đời sau vẫn còn nhắc mãi.

Các đồng nghiệp nước ngoài đánh giá ông Thu là Điêu khắc gia xuất sắc nhất ở Việt Nam. Đại tá H.G. Fuller, Bộ Chỉ huy Lục Quân Hoa Kỳ ở Việt Nam (USARV) đã viết: “… xét về đề tài tượng đài chiến tranh, tôi trân trọng đặt tượng Thương Tiếc và các tác phẩm khác của ông ngang hàng với bức ảnh nổi tiếng ‘Raising The Flag on Iwo Jima’ (Dựng Cờ Trên Đảo Iwo Jima) ở Arlington” – sau này được dựng thành tượng “Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.”

Cuộc bể dâu chấm dứt nghề điêu khắc
Sau khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 16/05/1975 một nhóm người đột nhập vào nhà ông Thu lúc 2h đêm, bắt ông đi. Ông bị giam, đánh đập tàn nhẫn đến gần chết rồi thả ra sau 7 ngày. Hành động này chỉ là một sự trả thù của nhóm người “bên thắng cuộc” chứ không nhằm điều tra gì cả. Vào cuối Tháng Sáu, 1975, một nhóm người hung hãn đã xông vào nhà ông đập nát các bức tượng, có bức cao 4m về người lính VNCH, đó là bức Quyết Thắng và bức Thương Tiếc (bằng bê-tông là khuôn đúc của bức Thương Tiếc bằng đồng). Bức Ngày Về nằm khuất sau những cây dây leo nên đã thoát hiểm.
Không chứng kiến cảnh đập phá này vì một tuần trước đó, ngày 23/06/1975, ông đã nhập trại tập trung để bắt đầu một cuộc tù đày giống như bao sĩ quan VNCH phải chịu sau ngày chiến tranh kết thúc. Những ngày đầu tại trại Hàm Tân, biết ông là tác giả tượng Thương Tiếc những người cai ngục đã dùng nhục hình, làm cho thính lực của ông bị mất hoàn toàn. Tiếp theo là 7 tháng cùm chân rồi hai năm biệt giam trong conex. Để khuất phục ông, những người quản lý trại giam đã bắt ông tạc tượng ông Hồ Chí Minh để đánh đổi thoát khỏi biệt giam trong conex. Sau hai tháng hoàn tất, ông đã cho ra đời bức tượng cao 4m… tượng ông Nguyễn Văn Thiệu!
Ngày 02/09/1977, trại giam Hàm Tân không có tượng Hồ Chí Minh để làm lễ mà thay bằng sự ồn ào từ các tù nhân và sự nổi giận của các giám thị rồi biến thành trận đòn thù dã man giáng lên tác giả của bức tượng.
Với hành động bất khuất này, Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã tạo nên một tiếng vang lan truyền ra khỏi biên giới quốc gia đang bị thế giới cô lập và mãi mãi trở thành “một pho tượng” người lính VNCH bất tử.
Đào thoát
Ngày 24/06/1983 ông được trở về với gia đình sau 8 năm tù và bị giam lỏng tiếp tại nhà trong bốn năm. Ông đã sử dụng thời gian này để hồi phục sức khỏe, dạy điêu khắc để chờ ngày vượt biên.
Hết hạn quản chế, ông đã đào thoát qua ngã Kompongsom. Sau hai ngày lênh đênh trên biển, ngày 28/12/1987 ông đã đặt chân lên đảo Ko Kut (Thái Lan) cùng với bức tượng mẫu Thương Tiếc bằng thạch cao, cao 50cm đã được TT Nguyễn Văn Thiệu duyệt. Ông lần lượt qua các trại tị nạn Leam Ngob, Panat Nikhom.
Tại Panat ông đã tạc bức Phật Bà Quan Âm, cao 4m theo yêu cầu của Hoàng Gia Thái Lan và cũng để tạ ơn Người đã giúp ông thoát nạn. Cùng với bức tượng trong trại tù Hàm Tân kể trên, đây là tác phẩm thứ hai của ông sau ngày 30/04/1975 và cũng là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác ngắn ngủi của ông. Những ngày sau đó ông chỉ tạc những bức tượng theo yêu cầu của bạn bè.
Sau hai năm ở đảo ông được định cư tại Hoa Kỳ.
Với thính lực gần bằng không, ông thấy ngày càng bế tắc trong việc mưu sinh nơi xứ người. Trong 15 năm sống ở Mỹ ông hy vọng từng ngày cộng đồng giúp ông phục dựng lại bức tượng Thương Tiếc, nhưng điều đó đã không bao giờ đến. Không sống được bằng nghề điêu khắc, ông không biết làm gì khác. Ông không tìm thấy niềm vui ở chốn này và lặng lẽ trở về Việt Nam, bỏ lại cảnh cô độc cùng sự ngưỡng mộ của muôn vạn người đồng hương tỵ nạn.
Trở về mái nhà xưa
Cũng với tâm trạng u uất như ngày trở về từ trại tù Hàm Tân, Ông âm thầm đến thăm từng bức tượng trong sân nhà như kể lể:
“Ta về như bóng ma hờn tủi.
Lục lại thời gian kiếm chính mình” – Tô Thùy Yên
Ông linh cảm rằng, những linh hồn đang lẩn khuất quanh đây nay lại nhập vào tượng đá để đón mừng cố nhân. Ông sống kín đáo, cô độc trong một căn phòng nhỏ ở cuối mảnh đất rộng bằng một nửa sân bóng đá. Ông may mắn có sự quan tâm của người cháu và một vài học trò cũ Võ Trường Toản lớp 6/5 khóa 1971. Họ giúp ông vượt qua những thiếu thốn trong sinh hoạt và sửa lại căn phòng khang trang với những tiện nghi tối thiểu.

Ngày Ông đào thoát khỏi Việt Nam, và cả sau này, Bà Giáo dặn Ông luôn niệm để được Phật Bà phù hộ lúc sinh – tử. Bà cũng luôn nhắc ông buông bỏ hận thù để tâm được an.
Trong ba năm cuối đời, sức khỏe ông suy dần để rồi Ông đã ra đi vĩnh viễn vào ngày 6 Tháng Năm 2025 tại tư gia, cũng là xưởng sáng tác năm xưa ở Gò Vấp. Giờ đây Ông nằm xuống và đã cởi bỏ oán thù. “Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên” – Trịnh Công Sơn.
Thương Tiếc Ông, một Tượng Đài bất khuất!
Học trò Võ Trường Toản sẽ mãi nhớ đến Ông và tìm thấy hình ảnh Ông qua bức tượng Đức Hiệu Tổ Võ Trường Toản mà ông đã tạc năm 1974, hiện vẫn còn đặt tại ngôi trường xưa.
Nguyễn Tuấn Khoa
____
Câu chuyện xúc động về tác giả bức tượng Thương Tiếc
Nguyễn Tuấn Khoa (Ghi chép)
Miền Nam Việt Nam trước 1975 không ai không biết đến điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, tác giả bức tượng Thương Tiếc đặt tại nghĩa trang quân đội trên xa lộ Biên Hòa năm 1966. Chính đứa con mà ông yêu quý nhất này đã đưa ông lên đỉnh danh vọng để rồi đẩy ông xuống đáy địa ngục. Ký ức Tháng Tư đen cùng câu chuyện 46 năm qua lời kể của thầy tôi – Nguyễn Thanh Thu – thật nặng nề và đầy xúc động.
Ký ức về thầy
Thầy Thu tuổi Quý Dậu (1934), dạy môn hội họa cho tôi, anh em tôi và những ai đã từng học tại Trung học Võ Trường Toản (VTT) từ năm 1958. Ông có dáng người chắc khỏe, tầm thước, đi dạy bằng xe Jeep cao màu xanh dương, mặc áo chemise trắng, đeo cravat đỏ luồn vào trong bụng dưới khuy áo thứ hai. Cá tính rất mạnh mẽ, nghiêm khắc, khó gần. Ông dạy học trò cầm bút chì theo kiểu cầm archer khi chơi violon. Ông dễ nổi nóng và đánh đòn học sinh nào cầm bút theo kiểu viết, dùng thước “vẽ” đường thẳng. Mỗi buổi học ông chọn ra hai-ba bài vẽ tệ nhất, dùng dây kẽm cột chổi để treo bài lên cổ người vẽ, bắt đứng trước lớp cho đến khi hết giờ. Nguyễn Minh Trí, bạn học của chúng tôi từ lớp 6-5 cũng là con trai của ông, thường xuyên bị đòn đau. Lớp tôi ai cũng thương nó vì nghĩ rằng nó chịu đòn thay cho cả lớp. Có lẽ nhờ sự nghiêm khắc của ông mà trình độ hội họa của chúng tôi lúc đó như “người khổng lồ” so với học sinh cấp II bây giờ?
Bức tượng Thương Tiếc
Do nổi tiếng từ bức tượng Trung Liệt đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, ngày 22-8-1966, ông được Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia – Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giao thực hiện bức tượng Thương Tiếc đặt tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Tượng ngồi, bằng bê-tông cốt thép, màu đen, uy nghiêm, cao 4 m. Nếu tính cả mô đất dưới chân người lính và bệ tượng thì chiều cao tượng đài là 8 m. Về bức tượng Thương Tiếc, ông kể rằng ông được Tổng Thống Thiệu chọn thực hiện, từ việc thể hiện ý tưởng đến việc xây dựng tượng đài tại Nghĩa trang Quân đội.
Sau bảy ngày, ông được mời vào Dinh để trình bày năm phác thảo nhưng vào cuối buổi, ông nói phác thảo mà ông yêu thích nhất là phác thảo thứ sáu mới vẽ nháp trên bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ trong khi chờ ngoài hành lang Dinh. Ý tưởng thứ sáu lấy từ hình ảnh của hạ sĩ Võ Văn Hai khóc bạn tại quán nước trước Nghĩa trang Quân đội cũ ở Gò Vấp mà ông nhìn thấy một tuần trước đó. Phác thảo thứ sáu được chọn và chỉ sau hai tháng rưỡi, bức tượng đồng Thương Tiếc cao 9 m hình thành, đưa ông lên đỉnh cao danh vọng ở tuổi 32 với sự kính trọng của giới chức và quân nhân thời đó. Tượng được khánh thành ngày Quốc Khánh VNCH 1-11-1966.
Trên không gian rộng thoáng, từ mọi hướng, người ta có thể nhìn thấy bức tượng cao, nổi bật trên nền trời xanh. Đó là người lính từ chiến trường về thăm mộ đồng đội, quân phục, ba-lô lấm bụi, súng trường gác trên hai đùi, lưỡi lê ngang hông, dây quai nón sắt buông thỏng như sợi buồn rơi vào cõi vô định. Anh ngồi thẫn thờ, đôi mắt buồn nhìn xa xăm, thương tiếc cho người bạn vừa nằm xuống. Bức tượng trong bối cảnh đó trở nên có hồn hơn và nhiều chuyện linh thiêng của bức tượng đã không ngớt lưu truyền trong dân chúng lúc đó.
Đỉnh danh vọng và đáy địa ngục
Tiếng tăm của điêu khắc gia Thu và các tác phẩm của ông đã vang xa khỏi quê hương. Ngày 20-7-1967, đại tá H.G. Fuller, thuộc Bộ Chỉ huy Lục quân Hoa Kỳ ở Việt Nam (USARV), gửi thư cho đại tá William P. Jones – Chủ Tịch Ủy Ban Đài Tưởng niệm Chiến Tranh Hoa Kỳ, trong đó ông ca ngợi ông Thu và các bức tượng về đề tài chiến tranh. Ông William xem ông Thu là điêu khắc gia xuất sắc nhất Việt Nam lúc ấy và đánh giá bức tượng Thương Tiếc là một kiệt tác nghệ thuật. Ông William viết: “… xét về đề tài tượng đài chiến tranh, tôi trân trọng đặt tượng Thương Tiếc và các tác phẩm khác của ông ngang hàng với bức ảnh nổi tiếng Raising The Flag on Iwo Jima ở Arlington.” Ông cũng tiến cử ông Thu với Ủy ban để thực hiện việc dựng tượng ở Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh trong các dự án tương lai.


Nói đến điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, người ta chỉ nhớ đến ông với bức tượng Thương Tiếc. Thật ra ông còn một số tác phẩm khác, chẳng hạn tượng Quyết Thắng, tác phẩm được tạc sau cùng trong sự nghiệp sáng tác của ông. Tượng cao 4m, bằng bê-tông cốt thép mô tả hình ảnh người lính Thủy Quân Lục Chiến trong tư thế ném lựu đạn. Chân trái co thấp bước tới trước, chân phải thẳng tạo thế đứng vững chắc. Cánh tay và bàn tay trái duỗi thẳng hướng về đích đến, tay phải đưa về phía lưng, làm thân người lính vặn về phía sau, thế đứng này giúp người lính có thể ném lựu đạn đi xa nhất. Khẩu súng đặt vội giữa hai chân, nón sắt rơi xuống, phần áo phía trước phủ ra ngoài quần làm cho người xem cảm nhận được sức nóng của chiến trường. Trong khoảnh khắc sống còn, gương mặt người lính trở nên căng thẳng…

Khi vừa hoàn thành, tượng Quyết Thắng được triển lãm tại công viên Đống Đa, trước Tòa Đô Chánh vào năm 1969. Cái thần của bức tượng cùng bảy bức tượng khác về đề tài quân đội của ông Thu tại cuộc triển lãm làm cho người xem cảm nhận không khí chiến tranh lan vào tận đô thành Sài Gòn. Trước đó vài năm, có một tác phẩm điêu khắc đồ sộ cùng chủ đề người lính Thủy Quân Lục Chiến được đặt trước Quốc Hội (Hạ Nghị Viện).
Tượng do điêu khắc gia Huỳnh Huyền Đỏ tạc năm 1966. Ông Đỏ là thiếu tá Bộ Tổng Tham Mưu, là bạn học với ông Thu tại Cao Đẳng Mỹ Thuật. Ban đầu tượng được duyệt với phác thảo gồm ba người lính nhưng khi hoàn thiện thì tượng đài chỉ có hai người. Trong thời gian thực hiện, ông Đỏ rút lui không rõ lý do, công việc dang dở, vì vậy được giao cho thiếu úy Đinh Văn Thuộc (không phải điêu khắc gia), cùng làm với sự cố vấn của họa sĩ Lê Chánh và Lương Trường Thọ. Trong hoàn cảnh như vậy, tượng khi hoàn thành có nhiều khiếm khuyết mà tác giả của nó chắc không khỏi buồn lòng! Sóng gió của bức tượng này chưa dừng ở đó. Ngay khi tượng được dựng, dân biểu Hạ Nghị Viện phản đối kịch liệt, vì súng người lính hướng thẳng vào tòa nhà Quốc Hội. Họ cương quyết đòi di chuyển tượng sang địa điểm khác. Đầu năm 1968, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ thị điêu khắc gia Thu làm gấp một tượng khác để thay thế. Đó là lý do ra đời của tượng Quyết Thắng.
Chỉ ba tháng sau khi có chỉ thị, ông Thu đã gấp rút hoàn thành Quyết Thắng với kinh phí tự bỏ 300.000 đồng. Tổng thống Thiệu muốn thay thế bức tượng trước trụ sở Quốc hội ngay và có ý đưa tượng Thủy Quân Lục Chiến về Ngã Tư Hàng Xanh. Tuy nhiên, không dễ gì thay thế biểu tượng một binh chủng oai hùng, khi ông Thiệu cùng lúc đương đầu với thiếu tướng Bùi Thế Lân (tư lệnh Thủy quân lục chiến) và đại tướng Cao Văn Viên (Bộ Tổng Tham Mưu). Bức tượng Thủy Quân Lục Chiến nhờ vậy tồn tại thêm vài năm cho đến ngày 30-4 rồi bị nhóm thanh niên “cách mạng 30-4” phá sập.
Sau khi Sài Gòn thất thủ, “bên thắng cuộc” đã giật đổ bức tượng Thương Tiếc bằng đồng, rồi chuyển về Dĩ An. Đến nay không ai biết được số phận của nó. Chưa dừng lại, ít lâu sau đó, một nhóm vài chục bộ đội đã kéo tới tư gia điêu khắc gia Thu để truy tìm bức tượng Thương Tiếc bằng bê-tông cốt thép đã tạc và đặt tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa năm 1967. Đó là tượng dùng để đúc đồng (khuôn gốc) và hình thành nên bức tượng Thương Tiếc phiên bản bằng đồng năm 1970.
Nhóm người hung hãn ra sức đập phá bức tượng Thương Tiếc một cách không… thương tiếc và chỉ dừng lại khi tượng chỉ còn lại phần bụng và chân. Hiện nay tượng bê-tông bị đập phá này vẫn còn nằm trong sân sau nhà của ông Thu, cạnh các ngôi mộ gia tiên, cây dại che phủ nên ít ai chú ý. Sau khi đập phá bức Thương Tiếc, nhóm người này tiếp tục đập phá bức tượng Lính Thủy quân Lục Chiến, cao 4m, chỉ để lại đầu tượng. Ngày trở về nhà từ trại tù Hàm Tân với thân hình tiều tụy, ông lê bước đến bên bức Thương Tiếc. Ông đã ngã quỵ dưới chân tượng và ngồi ở đó rất lâu cho đến lúc sụp tối. Ông nói sự trả thù này còn ác hơn những đòn thù mà ông phải gánh chịu trong tám năm dài ngục tối…
Võ Văn Hai, giờ này ông ở đâu?
Hạ sĩ Võ Văn Hai, Tiểu Đoàn II binh chủng Nhảy Dù bỗng trở nên nổi tiếng cùng với ông Thu và bức tượng Thương Tiếc lịch sử khi được chọn làm người mẫu. Giống như điêu khắc gia Thu, cuộc đời bí ẩn của hạ sĩ Hai cũng chìm nổi theo bức tượng. Không lâu sau tượng được dựng lên, người ta đồn ông Hai đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị. Nhiều bài thơ khóc ông đã ra đời. Thật ra ông Hai chưa chết!
Trong thời gian ông Thu ở tù, ông Hai đã hai lần thăm gia đình ông Thu. Lần đầu, rất sớm sau năm 1975. Tim ông như vỡ vụn khi thấy tượng Thương Tiếc – như là phần xác của ông – giờ đây chỉ là đống đổ nát. Lần thứ hai, nhiều năm sau đó. Ông nghe gia đình ông Thu kể rằng ông Thu được cai ngục đưa về thăm nhà với đôi chân yếu không thể tự đi. Ông Hai hoảng loạn, lo sợ có ngày cộng sản tìm đến ông rồi cuộc đời mình cũng chìm xuống địa ngục như thiếu tá Thu. Ông nhanh chóng rời khỏi nhà và không ai có tin tức của hạ sĩ Hai từ ngày đó. Có lẽ ông Hai đã thay tên đổi họ, “mai danh ẩn tích,” trở về cuộc sống nông dân ở đâu đó trên đất Diên Khánh, ông Thu nghĩ vậy…
Trong tù, tạc tượng ông Thiệu, thay vì Hồ Chí Minh!
Tháng Tư đen đã đẩy gia đình ông xuống địa ngục. Tháng Mười Hai,1975, tại lớp 10C5 Trường Võ Trường Toản (VTT), Trí – cậu con trai của ông – được lệnh rời lớp, mang theo cặp lên văn phòng. Hiệu trưởng Nguyễn Quang Hồng, dân Nam tập kết, môi mỏng, đầu hói, lạnh lùng nói: “Ba em nợ máu với nhân dân, em không được học ở đây. Từ hôm nay.” Linh cảm chuyện không lành, tôi đợi Trí tại nhà xe, Trí lầm lũi, khóc nấc và nói: “Tao bị đuổi học.” Trí giấu mẹ vì sợ bà đau buồn, có thể sinh bệnh mà chết. Mỗi sáng nó vẫn ra khỏi nhà, chui “lỗ chó” vào Sở thú ngồi cho đến giờ về, nhìn buồn sang trường cũ nơi có tượng cụ Võ Trường Toản do chính Ba nó tạc năm 1972.
Trại tập trung Hàm Tân, một buổi sáng cũng khoảng thời gian Trí bị đuổi, thiếu tá Thu bị gọi lên chất vấn về thành tích không khai trong lý lịch: là người đã tạc tượng Ngày về (giải thưởng văn hóa nghệ thuật Ngô Đình Diệm 1963) và tượng Thương tiếc. Sau ít phút lắng nghe ý nghĩa của các bức tượng, sáu tên cai ngục thay nhau đánh đập ông dã man trong ba ngày. Chúng dùng cánh tay hộ pháp vỗ mạnh vào mang tai khiến ông chảy máu và điếc luôn từ ngày đó. Ông bị biệt giam trong conex. Tám tháng không thấy mặt trời. Ít lâu sau, chúng yêu cầu ông tạc tượng Hồ Chí Minh. Suy nghĩ hồi lâu, ông đồng ý với điều kiện: được về Gia Định để thăm mẹ già, vợ con và chuẩn bị vật liệu.
Ngày trở về thăm mẹ tại cư xá Việt Nam Thương Tín (Hàng Xanh), khi người em gái ý tứ giữ chân bốn tên an ninh ở phòng khách, ông Thu nghe mẹ nghiêm khắc nói: “Mẹ đẻ ra con, mẹ hiểu con muốn gì. Nếu trái ý, mẹ sẽ tự tử ngay. Cố gắng ở thêm ít năm rồi về.” Biết tính mẹ, ông đành bỏ kế hoạch trốn sau khi thăm vợ con ở Gò Vấp. Ông trở lại địa ngục, miễn cưỡng tạc tượng kẻ thù với một mật kế mới. Hàng ngày, ông nuốt vào những lời sỉ vả của chiến hữu nhắm vào ông.
Những ngày cuối Tháng Tám, ông càng miệt mài thức khuya “tạc tượng,” chiến hữu càng ghẻ lạnh. Sáng ngày 1-9, cả trại tù náo loạn khi nhận ra: đây không phải tượng Hồ Chí Minh mà là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu! Những ngày sau đó ông sống ở đáy địa ngục. Ông chết đi sống lại nhiều lần trước những trận đòn thù hội đồng. Một ngày Tháng Mười, ông bị lôi ra khỏi conex lúc 4g sáng để đưa ra pháp trường. Mạng ông lớn, lệnh hành quyết được bãi bỏ ở những giây cuối cùng. Biệt giam, đòn thù, thiếu ăn…, tính mạng mong manh gần chết, cuối cùng, ông được tha năm 1983.
Một giấc mơ cuối đời
Sau bốn năm dưỡng thương, buồn cảnh gia đình tan nát, ông vượt biên bằng đường bộ mà trong túi không có một xu theo nghĩa đen. Hành trình gian khổ ly kỳ này (sẽ được hầu chuyện vào dịp khác) đưa ông đến Thái Lan, sau đó định cư ở Mỹ hơn 10 năm, rồi trở về Việt Nam cho đến nay. Tổng Thống Thiệu, trong lần nói chuyện với đồng bào tại California, cảm kích về việc ông Thu dựng tượng mình trong trại tù Hàm Tân, đã xuống tận chỗ ngồi của ông Thu để thăm hỏi.
Hơn 10 năm ở Mỹ, ông trông mong cộng đồng giúp phục dựng lại bức tượng Thương Tiếc nhưng niềm hy vọng đó cuối cùng chỉ là những “confetti vương vãi trên sàn.” Không sống được bằng nghề điêu khắc, ông không biết làm gì khác. Với thính lực gần bằng không, ông ngày càng bế tắc trong việc mưu sinh xứ người. Cô độc, cuối cùng ông miễn cưỡng trở về Việt Nam. Trở lại mái nhà xưa, gần gia đình, trong không gian sáng tác quen thuộc, ông tạc thêm một số tượng, dựa trên các ý tưởng hình thành từ trước như: Được Mùa, Cửu Long… Tuy nhiên, đó là những tượng tỷ lệ nhỏ, tạc chỉ để thỏa mãn đam mê nghệ thuật.
Bây giờ, với những ngày tháng còn lại cuối cùng của cuộc đời, ông chỉ mong gặp lại ba người, trong đó có hạ sĩ Hai, người đã ghé thăm gia đình ông vài lần trong lúc ông ở tù; và hai người phụ nữ mà ông mang ơn cứu mạng: cô Lan (bán canteen trong trại Hàm Tân), người giao cơm khi ông bị biệt giam với miếng thịt giấu ở đáy chén; cô Oanh, người tình của trùm du đãng xóm chài Sa Tưng (Campuchia). Ở tuổi 87, ông ấp ủ một việc làm cuối cùng: dựng tượng chính mình ngay sau khi tôi thực hiện xong album chân dung của ông. Cầu chúc ông sớm đạt nguyện để lớp hậu sinh có dịp viếng ông, nghiêng mình trước một người lính VNCH can trường.
Những tâm sự trong bối cảnh Tháng Tư đen khiến chúng ta không khỏi ngậm ngùi. Cuộc đời sóng gió của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã làm cho pho tượng Thương Tiếc đẹp hơn và trở nên bất tử. Những kẻ hậu sinh rồi sẽ còn nhắc về ông: “Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy.”
(Nguồn: Không quân Việt Nam Cộng Hoà)

