Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – “Thuyền” là tựa đề cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Đức Tùng (Canada), vừa được xuất bản mùa Hè 2025.

Trong trang đầu tiên (bản điện tử do Nguyễn Đức Tùng gửi riêng), anh viết: “Cả Sài Gòn, cả nước, xem bói. Thời trước, người ta xem để hỏi ngày lành tháng tốt, tiền tài, hạnh phúc lứa đôi, nhưng năm ấy, mọi người hỏi: có đi được không?” (trích)
Vào giai đoạn ấy, sau năm 1975, “nếu cái cột đèn biết đi thì cũng phải đi.”
Nhận xét đơn giản đó, có người cho là của nghệ sĩ Trần Văn Trạch, đã lập tức trở thành phát ngôn thời danh, mô tả khá hình tượng cho một chương bi thảm trong lịch sử dân tộc, nối tiếp ngay sau một chương bi thảm khác là chiến tranh. Chương đó bắt đầu từ trong bối cảnh: “Ngày tôi ngoài hai mươi tuổi, đó là những năm tháng u ám nhất của đời người, đó là những ngày yêu đương tràn ngập, mặt trời lên mỗi sáng, chiếu rọi mặt đất. Nhìn đâu cũng thấy tương lai. Đó là những ngày buồn bã, đói, thất vọng. Chúng tôi có tất cả, chúng tôi không có gì. Đó là những ngày kỳ lạ khi chiến tranh chấm dứt mà không chấm dứt, hòa bình lo âu.” (trích)
Không có bối cảnh lạ lùng đó, “thuyền” chỉ là con thuyền, một phương tiện giao thông, không trở thành “Thuyền” và rồi là “thuyền nhân” (boat people), một danh xưng bây giờ đã là ngôn ngữ quốc tế.
Đó không chỉ là câu chuyện của một/những cá nhân mà là một chấn thương dân tộc, hơn thế nữa, chấn thương nhân loại. Bắt đầu bằng những trốn chạy đơn lẻ, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, thoát khỏi đất nước bằng mọi giá trở thành một “exodus” tập thể, hàng loạt, liên tục, bi thương, tủi nhục.
Liệt kê một vài chi tiết trong số hàng ngàn chi tiết khác tìm thấy trong “Thuyền:” “Một chiếc trực thăng bay qua vùng biển nhìn thấy nhiều xác người trôi nổi trên mặt nước, trong khi có nhiều tàu cướp biển Thái đang vây quanh, phi công chứng kiến cảnh bọn hải tặc ném trẻ em Việt Nam xuống biển để buộc người lớn nhảy xuống theo;” “một phụ nữ kể lại khi cô trốn trong một bụi rậm trên đảo Kohkra, bọn hải tặc nhóm lửa đốt bụi rậm để cô tự bò ra;” hải tặc “mang các cô gái và trẻ em đến nhiều đảo khác thay nhau hãm hiếp, sau đó bắt về làm vợ, có người chúng bán cho nhà chứa tại Pattaya hay Chieng Mai, có những đứa trẻ bị bắt đi bán làm con nuôi cho nhà giàu có;” “băng cướp Cánh Buồm Đen nổi tiếng nhất, với dấu hiệu là chiếc chổi treo ở đầu mũi thuyền, chổi nghĩa là quét sạch, cướp sạch, giết sạch. Những bọn cướp biển khác, không treo một chiếc chổi nào ở đầu thuyền của chúng, nhưng hành động không hề thua kém Cánh Buồm Đen, dâm loạn, tàn ác, vượt ra khỏi sự tưởng tượng của con người;” “Tôi nghe nói rằng có những chiếc thuyền trôi dạt nhiều ngày, người đói quá phải ăn cả thịt người.”
Như hàng trăm ngàn người Việt Nam khác, trước khi trở thành thuyền nhân, nhân vật chính trong “Thuyền,” một chàng trai ngoài 20 tuổi, đã trải qua một/nhiều chuyến đi thất bại. Có người thoát, có người bị bắn chết, có người bị bắt.
Có lần, trên đường trốn tránh công an, chàng nhảy đại xuống một cái giếng cạn. Tưởng thoát, không ngờ bị một cô dân quân phát hiện, vì vô ý để quên ly cà phê uống dở trên miệng giếng. Cô gọi chàng trèo lên rồi khôn khéo “áp tải” chàng đến bến xe, để chàng ung dung về nhà an toàn. Thì ra, người thiếu nữ không phải toàn “rin” bộ đội từ trong rừng ra, mà là một “học sinh địa phương thời cũ,” dân quân tân tuyển, được ví von như “một con bướm bay dọc lề đường, chậm rãi, lập lòe, lập lòe…” (trích “Thuyền”).
Rõ là cùng “tạng” người như chàng. Khao khát ra đi của chàng, rốt cuộc, cũng thành sự thật. Nhờ đi theo con đường “bán chính thức.” Lậu nhưng không lậu; bất hợp pháp, nhưng hợp pháp. Đúng ra, một cuộc mua bán đổi chác. Người vượt biên được ra đi an toàn; cán bộ có tiền.
Văn chương “Thuyền” là một kết cấu kép, chảy suốt mấy trăm trang thành hai dòng, gần như song song: dòng tâm thức và dòng sự kiện. Sắp xếp kiểu nào (tuyến tính hay phi tuyến tính), sự kiện vẫn là sự kiện, sự kiện bao giờ cũng tuyến tính, cái này móc nối với cái kia, là một câu chuyện của nhiều câu chuyện, là nhiều số phận trong một số phận, là tổng hợp phân tán và manh mún của một tấm tranh cắt dán nhiều màu sắc, cực kỳ lỏng lẻo và cực kỳ gắn bó.
Dưới áp lực của sự kiện, dòng tâm thức (bản chất là phi tuyến tính), khi thì rò rỉ khi thì tuôn trào, là day dứt triền miên, xoắn xuýt, đứt lại liền, tách lại chập, xa lại gần, có khi không đầu không đuôi, lắp ghép, chồng chéo.
Nhân vật trong “Thuyền” là một thuyền nhân hồn nhiên, ra đi để tìm một hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn, so với rất nhiều thuyền nhân khác là những người phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhất là những cựu tù nhân trở về từ các trại cải tạo (và thân nhân của họ), họ ra đi đầy thương tích chính trị, đầy oan khiên phẫn hận.
Có một sự nén ép tối đa để tránh xa những thông điệp chính trị. Thay vào đó, là thông điệp nhân sinh, là chuyện đời muôn thuở: thân phận (mong manh) của con người khi đối diện với những tình thế vô cùng cực đoan, lúc mà mỗi một cá nhân phải tự mình giải quyết những mâu thuẫn: hèn hạ – anh hùng, bội phản – trung thành, đức hạnh – lỗi lầm, chết – sống, tồn tại – hư vô…
Thông điệp được gửi ra, dẫu không thể nào vượt hẳn khỏi thông điệp phổ biến mà thế giới biết đến về thuyền nhân, vẫn giúp làm nhẹ đi một phần nào gánh nặng lịch sử mà thế hệ của Nguyễn Đức Tùng và của tôi đã phải vác trên vai. Cho đến bây giờ.
“Thuyền” đồng thời cũng là một chuyện tình.
Hai người đều đương độ 20, rất trẻ, rất tương lai. Chàng người Trung, nàng người Bắc, một cô “Bắc kỳ thương khó.” Chán ngán với cảnh “chiến tranh chấm dứt mà không chấm dứt, hòa bình lo âu,” họ quyết định ra đi, vì “ước vọng lớn nhất của con người là tự do.”
Băn khoăn, lo lắng, họ rủ nhau đi coi bói. Bà thầy bói quả quyết: “Anh đi được. Chị, không.” Lời phán này trở thành nỗi ám ảnh khiến có lúc nàng thối chí, ngay cả khi thuyền sắp ra biển, về sau này. Nhưng, đi là đi. Bị bể. Lại tìm cách đi. Thua keo này bày keo khác. Rốt cuộc, ra được hải phận quốc tế. Thoát kiếp nạn công an, lại rơi vào một kiếp nạn khác: hải tặc. Chẳng có thì giờ để nghĩ đến nhau. Sau ba lần bị tấn công, cướp bóc, “thuyền chết máy hẳn, trôi dạt trên sóng như chiếc lá.” Đói, đau, tuyệt vọng, cả hai đều sức cùng lực tận.

Đêm đó, thức dậy sau một cơn ngủ mê, chàng nghe bàn tay của nàng chạm vào. “Nàng đặt tay lên ngực tôi, chỗ xương ức, kéo dần xuống. Tôi nằm im, ngạc nhiên, nghĩ ngợi. Liên Hương rụt tay về, một lát sau lại đặt tay lên trái tim tôi.” Cử chỉ đó chứa đựng một thông điệp ngầm: dâng hiến. Nguyễn Đức Tùng viết: “Sự thèm muốn chính là sự sống” (trích). Chính xác!
“Tôi (…) ôm lấy nàng thật lâu, dán sát da thịt vào nhau, đùi phải của tôi chạm vào háng nàng, tôi dừng lại, giữ thật lâu, Liên Hương cởi thắt lưng quần ra, tuột nó xuống, vướng bàn chân, nằm nghiêng người, úp mặt vào ngực tôi. Chúng tôi làm tình trong bóng tối dày đặc, dữ dội, mê man, đau đớn, cố gắng không gây ra tiếng động, khổ sở và sung sướng, giờ đây những giọt mồ hôi cuối cùng được vắt kiệt bắt đầu lấm tấm trên da bụng của tôi, tôi cầm tay nàng đặt lên chỗ ấy, Liên Hương chạm tay vào, bàn tay của nàng sáng lên trong bóng tối.(…) Chúng tôi vào trong nhau nhiều lần, bất tận, dằng dặc như đêm, như thảm kịch.” (trích)
Đó là đoạn cao trào trong chương 18, “Đêm,” một trong những chương hay nhất của “Thuyền.”
Nhưng rồi bọn cướp lại lên tàu. Đàn ông chống lại, chúng bắn hạ. Chàng bị một báng súng giáng trúng mạn sườn, khuỵu xuống. Phụ nữ, kể cả nàng, bị chúng lùa đi. Bất lực, chàng nhìn “nàng bước không run rẩy, từng bước chậm chạp, nhưng chắc chắn” với “tà áo sơ mi bằng lụa mỏng, màu tím nhạt hoa cà, bay phấp phới.”
Nàng ngoái nhìn chàng một lần nữa, rồi “cất bước đi giữa những người đàn bà khác. Dáng đi mau lẹ, bình thản. Trong một phần mười giây đồng hồ, sau đó, hay một phần trăm giây, sau ánh mắt ấy, Liên Hương đột ngột biến mất. Nàng lao xuống biển như một con chim én. Không một tiếng động.” (trích)
Kiêu hãnh, đau đớn. Và đẹp!
Cái đẹp vô cùng của tình yêu. [qd]
Nguyễn Đức Tùng sinh tại Quảng Trị. Vượt biên, định cư ở Canada đầu thập niên 1980, tốt nghiệp y khoa tại đại học McMaster University, hiện hành nghề bác sĩ.
Ông làm thơ, dịch thuật, viết truyện, viết phê bình, cộng tác với các tạp chí văn chương mạng: Da Màu, Tiền Vệ, Văn Việt, Diễn Đàn Thế Kỷ.
Các tác phẩm đã xuất bản: “Thơ Đến Từ Đâu?” (2009), “Đối Thoại Văn Chương” (2012); “Thơ Cần Thiết Cho Ai” (2015), “Cuộc Đời Yêu Dấu” (dịch thơ Alice Munro, 2017), “Thư Gởi Con Trai” (2023), “Thơ Buổi Sáng” (2023).





