Nhớ lại Ðàm Trường của Nguyễn Ðức Quỳnh

Viên Linh

Nhà văn Nguyễn Ðức Quỳnh (1909-21.6.1974), quê làng Trà Bồ, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, sau du học đỗ kỹ sư điện toán, và bước vào hoạt động văn hóa đã trở thành người chủ chốt nhóm Hàn Thuyên (ngoài ông còn Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, Nguyễn Ðình Lạp, Lê Văn Siêu, Lương Ðức Thiệp,…) và nhà xuất bản Hàn Thuyên thời Tiền Chiến. Một cách nào đó Hàn Thuyên là một trong ba nhóm nổi tiếng trong hai thập niên trước và sau năm 1940 lúc ấy, nhóm kia là Tự Lực và số còn lại đông đảo hơn trong Tân Dân, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tao Ðàn (Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Vỹ, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai,…).

Nguyễn Ðức Quỳnh là khuôn mặt khó chụp cho sắc nét, bởi trong khi sách của các nhóm khác được xuất bản đều đặn, trong một khuôn khổ phổ thông nhắm vào đại chúng,thì sách của Hàn Thuyên và Nguyễn Ðức Quỳnh chỉ nghe nhan đề đã thấy sự chọn lọc độc giả riêng: Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình. Nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng nhóm Hàn Thuyên đã in ra khoảng 100 bộ sách khác nhau, đủ loại, con số không phải nhỏ, nhưng bây giờ ba phần tư thế kỷ sau, dường như nhóm này không còn một người nào gìn giữ di sản cho họ.

Khuôn mặt Nguyễn Ðức Quỳnh khó chụp, vừng trán cao rộng, đôi mắt sắc sảo, miệng cười nhưng tiếng nói đanh thép, tứ thời mặc một bộ đồ áo cánh quần ta màu nâu đậm, nhưng luôn luôn nói chuyện nhân sinh và nhất là thời thế, từ Ðông sang Tây, đặc biệt nói về tuổi trẻ và cuộc sống, và thời đại. Ngôi nhà của gia đình ông ở ngõ chùa Giác Minh đường Hai Mươi, gần Ngã Bảy Sài gòn, (đường này hình như còn có tên là Phan Thanh Giản kể từ khúc bên kia Lê Văn Duyệt). Tuổi trẻ văn nghệ Sài Gòn những năm cuối thập niên 50 thường lui tới nhà ông, lúc nào cũng mở rộng cửa, đó là nơi ông ngồi và nằm trong chiếc ghế võng, tiếp xúc trò chuyện và diễn giảng mọi vấn đề, nơi được mệnh danh là Ðàm Trường Viễn Kiến. Lúc khởi sự nghe nói rất đông đảo, thường xuyên tới đây có Phạm Duy, nhóm Sáng Tạo, nhóm Văn Nghệ, nhóm thanh niên trong các đảng phái chính trị,…

Ðoạn dưới đây là một nhận định thông suốt hơn hết mà tôi được đọc: “Hồi bấy giờ, Nguyễn Ðức Quỳnh không hoạt động chính trị như trong thời Bảo Ðại, Bẩy Viễn. Nhưng nhà anh là nơi hầu hết các nhà trí thức ở miền Nam thường lui tới. Nhân viên công an, mật vụ của chính quyền cũng tới để nghe ngóng nữa… có một cuốn sách lớn bìa dày, giấy đỏ để ghi biên bản những cuộc họp. Cuốn sách này để trên một chiếc bàn đặt giữa nhà, ai đến chơi cũng giở sách ra coi. Anh Quỳnh muốn gieo vào đầu óc những người đến đàm trường một ý thức dân tộc, ý niệm này được anh nói tới từ thời hoạt động trong nhóm Hàn Thuyên. Theo anh, đệ tam, đệ tứ CS đã lạc hậu. Anh cho rằng phải thành lập Ðệ Ngũ Quốc Tế với ý thức dân tộc và với thành phần cốt cán là văn nghệ sĩ, trí thức để vượt các nhóm đó. Ðàm Trường Viễn Kiến là nơi điều hợp và tác động giới văn nghệ sĩ miền Nam. Do đó, anh không tiếc lời khen tất của mọi người, nhất là giới trẻ. Anh cho rằng ai cũng có một chỗ đứng trong việc gây ý thức dân tộc, vượt chủ nghĩa Mác. Tôi là người hiểu được việc làm cao của của anh Quỳnh. Tiếc rằng anh không còn sống để chứng kiến ngày tàn của chủ nghĩa Mác.” (Phạm Duy: Hồi Ký).

Người ta tới đây không cần hẹn, cuối tuần có khi đông tới năm sáu chục người, và sau dịp cuối tuần, ông có thể sẽ gặp riêng một vài người nào đó, mà ông đã nhắm thấy trong buổi họp mặt hôm cuối tuần đông đảo. Người ta không chỉ thảo luận hay nghe ông nói vào thập niên 50, 60, nhà văn Mai Thảo có viết một bài nhắc lại những cuộc thao luận văn nghệ ở Thanh Hóa trong thời kháng chiến do Nguyễn Ðức Quỳnh chủ tọa, có một đại hội đông vài trăm người, trên bàn chủ tọa có Ðặng Thai Mai, có Nguyễn Ðức Quỳnh.

Một hôm tôi tới dự không ngờ nhằm ngày Ðàm Trường làm giỗ tác giả Truyện Kiều, nhà văn Nguyễn Ðức Quỳnh đề nghị sửa soạn nghe bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, và ông lại đề nghị tôi lên đọc. Rất khó xử vì sẽ làm ông không vui, tôi vẫn từ chối. Ông không dặn trước tôi không sửa soạn chút nào. Giọng cậu đọc Văn Tế là nhất, cậu lên đọc cho anh em nghe đi. Cái khổ là ngay từ khi còn học các lớp đầu bậc trung học từ Hà Nội, tôi đã không thích Tự Lực và cũng không thích Nguyễn Du. Trong khi nghe nói về Ðoạn Tuyệt, về Dũng với Loan, về Nửa Chừng Xuân thì tôi đã say mê Trước Cảnh Hoang Tàn Ðế Thiên Ðế Thích, Trường Ðời hay Cô Tư Thung của Lê Văn Trương. Hồi học đệ tứ đã học Truyện Kiều (sau này Truyện Kiều đưa lên đệ nhị cấp), tôi đã khó chịu. Vì thế mà tối hôm ấy tôi đã không đọc Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.

Có lúc dại dột cậu học sinh trung học kia đã nêu câu hỏi rằng sao thiếu niên 14, 15 tuổi của cả nước đã được phổ biến cuộc đời của một phụ nữ bán dâm? Cho dù bán dâm vì bất cứ mục đích cao cả nào? Cho dù văn chương mô tả sự bán dâm cao siêu đến đâu? Ðọc để thưởng thức thế nào cũng được, nhưng đem ra giảng dạy ở bậc trung học đệ nhất cấp thì không thích hợp, dù đưa ra lý do gì đi nữa. Người ta lúc nào cũng tìm được lý do chính đáng khi cần biện hộ cho mình, có lẽ vì thế mà hiện nay một thực tế bi thảm đã trở thành sự thường: phụ nữ Việt Nam đã đi bán dâm ở tận Triều Tiên Ðài Loan Mã Lai và cả Cao Mên, ai ai cũng biết. Ở những xứ sở nào, khuôn mặt người nữ trong trường học khai tâm khai trí cho các thiếu niên là các anh thư lịch duyệt, là con người thật như Bà Trưng Bà Triệu, cái đó đã đành, không biết vì cớ gì ta đã có những anh thư liệt nữ đó, lại phải học văn chương ca ngợi nàng Kiều? Người viết bài này không có ý định gỡ tội cho những kẻ cầm quyền xuất cảng các nữ công dân đi làm điếm quốc tế, bằng cách đổ tội cho cô Kiều đã sớm làm gương trước ghế nhà trường, tội lỗi là ở các tác giả Chương Trình Trung Học Việt Nam thời Pháp thuộc, hình như là ông bộ trưởng họ Hoàng. Có khi ông Hoàng yêu người cùng làng cùng tỉnh quá mà quên đi thiên hạ chăng? Văn học của một nước, từ nhỏ đến lớn, có vẻ như không nói đến Truyện Kiều thì chưa thành thân thành danh chăng? Nhưng đó là chuyện bên lề, người viết chỉ nói ra nguyên do mình đã từ chối đọc văn tế ở Ðàm Trường Viễn Kiến độ nào, nhân ngày tháng kỵ của chủ nhân quá cố.

Nếu kể ra sách nhà văn Nguyễn Ðức Quỳnh đã viết và đã xuất bản, thì không thể nào viết nổi trong một bài hai ngàn chữ. (1) Ông còn làm báo, trước 1954 ở Sài Gòn nổi bật là tuần báo Ðời Mới do ông Trần Văn Ân đứng tên chủ nhiệm, ông chủ biên, ký nhiều bút hiệu, trong đó có bút hiệu Hà Việt Phương (Việt ở phương nào?). Ðây là một tờ báo sinh hoạt thời sự chính trị văn hóa văn nghệ phong phú, giá trị, hồi 1953, 54 phát hành ra tận Hà Nội. Nhiều tên tuổi nổi lên từ tờ báo này. Hồi 1956, Nguyễn Ðức Quỳnh là cố vấn cho ông Bộ Trưởng Công Dân Vụ Ngô Trọng Hiếu, trong có hai cơ sở quan trọng: Thông Tin Báo Chí và Truyền Thanh. Một trong những tờ bán nguyệt san văn nghệ xuất bản khoảng 1959-61 là tờ Sống, do Duy Sinh con trai ông làm thư ký tòa soạn, nhưng nhân sự phần lớn do ông tuyển chọn, còn nhớ trong đó có anh Nguyễn Khắc Ngữ ký tên Vũ Lang và người viết bài này. Ông ra quyết định phải trả nhuận bút cho thơ, 150 đồng một bài. (Một tuần báo và tạp chí lúc ấy chỉ bán ra với giá 2 đồng hoặc 5 đồng là nhiều, năm 1960 giá một số tạp chí là 10 đồng, chỉ có Thế Kỷ 20 in khổ lớn có phụ bản màu bán 20 đồng).

(1) Phong trào Tân Kỳ (1920); Khoa học phổ thông (1932); Kỹ nghệ làm pin điện (1932); Bốn biển không nhà (1930); Ta và Mọi (1929); Mình với Ta (1930); Các dân tộc lạc hậu miền Thượng (1930); Nguồn gốc tiếng Nam (1935); Thằng Cu So (1941), Thằng Phượng (1941); Thằng Kình (1942); Gốc tích loài người (1943); Ðời sống thái cổ (1942); Sắt đã vào lò (1943) Ai Cập cổ sử (1943); Cận đông sử (1943); Tây Phương cổ sử (1944); Lịch sử thế giới (1944). [Theo Diễn Ðàn Sách Xưa và Từ Ðiển Văn Học, Thế giới xuất bản, 2000.] Ở miền Nam ông còn xuất bản hai hoặc ba cuốn nữa, như Ai Có Qua Cầu, ký tên Hoài Ðồng Vọng.

MỚI CẬP NHẬT